Tin hoạt động nghành Tin hoạt động nghành

Khuyến cáo Chăm sóc Dinh dưỡng và Vitamin A cho bệnh nhân sởi
Trước tình hình bệnh sởi lan nhanh như hiện nay, PGS. Nguyễn Danh Tuyên, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng đã có những khuyến cáo về chăm sóc các bệnh nhân mắc sởi.

Khuyến cáo chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân Sởi

 

Bệnh sởi tiến triển nặng ở trẻ nhỏ có tình trạng dinh dưỡng kém, đặc biệt là thiếu vitamin A, suy dinh dưỡng hoặc trẻ có hệ thống miễn dịch suy giảm và do sức đề kháng của cơ thể suy giảm nên bệnh nhân dễ bị biến chứng.

 

Bệnh sởi chính là tác nhân gây ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Trẻ bị sởi thường chán ăn, bỏ ăn hay từ chối không ăn do bị viêm loét ở miệng, do tình trạng nhiễm trùng; nôn và tiêu chảy không chỉ làm tăng nhu cầu một số chất dinh dưỡng mà còn tăng đào thải và giảm hấp thu chất dinh dưỡng.

 

Đặc biệt, bệnh sởi làm tăng nhu cầu vitamin A của cơ thể, dẫn đến thiếu vitamin A, kể cả ở những trẻ trước đó được nuôi dưỡng tốt và không thiếu vitamin A vẫn có thể gây biến chứng viêm loét giác mạc, thậm chí gây mù lòa. Phác đồ điều trị bệnh Sởi của Bộ Y tế chỉ rõ trẻ phát hiện mắc bệnh sởi cần được uống ngay vitamin A theo liều sau:

 
  • Trẻ < 6 tháng: uống 50.000 đơn vị/ ngày x 2 ngày liên tiếp
  • Trẻ 6 -12 tháng: uống 100.000 đơn vị/ ngày x 2 ngày liên tiếp
  • Trẻ > 12 tháng và người lớn (trừ phụ nữ đang mang thai): uống 200.000 đơn vị/ ngày x 2 ngày liên tiếp
 

Trường hợp có biểu hiện thiếu vitamin A: lặp lại liều trên sau 4-6 tuần.

 

(theo "Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh sởi" do Bộ Y tế ban hành tại quyết định số 1327/QĐ-BYT, ngày 18/4/2014)

 

Việc bổ sung này giúp dự trữ vitamin A trong thời gian mắc bệnh sởi, kể cả ở trẻ được nuôi dưỡng tốt và có thể giúp bảo vệ mắt, chống mù lòa. Bổ sung vitamin A đã được một số nghiên cứu chứng minh làm giảm 50% trường hợp tử vong do bệnh sởi.

 

Do đó, bắt buộc tất cả trẻ em mắc sởi đều phải được uống vitamin A theo phác đồ của Bộ Y tế.

 

Chăm sóc dinh dưỡng là vô cùng quan trọng trong dự phòng và hỗ trợ điều trị bệnh sởi để giúp cơ thể tăng sức đề kháng chống lại tác nhân gây bệnh, giảm nguy cơ mắc các biến chứng hay giảm nhẹ biến chứng khi đã mắc. Trẻ suy dinh dưỡng thường dễ bị mắc sởi và bị biến chứng nặng. Ngược lại trẻ bị mắc sởi lại dễ bị suy dinh dưỡng thậm chí suy dinh dưỡng nặng. Do đó nếu trong quá trình điều trị bệnh sởi, nếu trẻ bị suy dinh dưỡng nặng sẽ cần được áp dụng chế độ điều trị suy dinh dưỡng. Việc lựa chọn thực phẩm hợp lý và chế độ dinh dưỡng đúng cách sẽ mang lại lợi ích trong việc phòng và chữa bệnh sởi.

 
 

 

 


Thiếu vitamin A gây vệt Bitot's ở mắt

 

 

 

1.     Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn nhằm nâng cao miễn dịch cho bệnh nhân sởi

 

·         Chế độ ăn đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm. Nhóm cung cấp chất bột đường, chất đạm, chất béo, giàu vitamin – khoáng chất thiết yếu.

 

·         Ăn đa dạng thực phẩm : 15-20 loại thực phẩm mỗi ngày.

 

·         Đối với trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ: bà mẹ cần tiếp tục cho con bú, cho bú nhiều lần hơn kết hợp với ăn bổ sung hợp lý. Thực hiện cho trẻ bú sữa mẹ hòan toàn trong 6 tháng đầu là biện pháp tốt nhất giúp trẻ tăng trưởng, phát triển tối ưu và góp phần phòng bệnh tốt nhất.

 

·         Cho trẻ ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng, đa dạng thực phẩm (đủ 4 nhóm thực phẩm: nhóm chất đạm, nhóm chất béo, nhóm chất bột đường, nhóm cung cấp vitamin và chất khoáng với 15-20 loại thực phẩm), không quá kiêng khem để bù lại các chất dinh dưỡng mất đi (đặc biệt là năng lượng và protein) do quá trình nhiễm trùng và tiến triển bệnh.

 

·         Cần cho trẻ ăn đủ các thức ăn giàu đạm. Đặc biệt các thực phẩm giàu đạm có giá trị sinh học cao như thịt, cá (cá chép, cá quả, cá ba sa, cá bông lau, cá hồi, cá trích…), trứng, sữa, hải sản đồng thời cũng là nguồn cung cấp kẽm và sắt giúp tăng cường hệ miễn dịch và sức đề kháng cho trẻ. Trong trường hợp trẻ bị biến chứng tiêu chảy hoặc viêm phổi, cần bổ sung kẽm theo hướng dẫn của y tế bằng đường uống cho trẻ.

 

·         Cần cho trẻ ăn tăng rau, quả có màu vàng, đỏ (như cà rốt, cà chua, bí đỏ, cam, xoài, đu đủ, dưa hấu…) và các loại rau có lá xanh sẫm (như rau muống, rau ngót, rau giền đỏ, cải bó xôi, xúp lơ xanh…) vì có nhiều vitamin và khoáng chất, đặc biệt là vitamin A, vitamin C … giúp tăng cường miễn dịch, chống nhiễm trùng và làm nhanh lành các tổn thương, đặc biệt tổn thương ở mắt, chống mù lòa. Các loại quả khác giàu vitamin C giúp nâng cao sức đề kháng và cung cấp nước cho trẻ như bưởi, táo, lê… cũng rất tốt. Bên cạnh đó trẻ cần được uống bổ sung vitamin A theo phác đồ điều trị.

 

·         Khi đang bị bệnh sởi không nên dùng các loại gia vị cay nóng như ớt, hạt tiêu, quế, hành tây, tỏi, cà ri…., hạn chế các thức ăn chứa nhiều chất béo no, nội tạng động vật. Tuyệt đối tránh, không dùng các thức ăn mà đã bị dị ứng hoặc các thức ăn lạ

 

2.     Lựa chọn thực phẩm

 

a. Sử dụng nguồn thực phẩm giàu vitamin A trong các bữa ăn: Thức ăn có nguồn gốc động vật có nhiều vitamin A hay retinol tốt nhất, hầu hết ở dạng retinyl-ester. Vì gan là nơi dự trữ vitamin A, nên gan có thành phần retinol cao nhất, ngoài ra chất béo từ thịt và lòng đỏ trứng cũng chứa một lượng vitamin A đáng kể.. Các thức ăn nguồn gốc thực vật có nhiều tiền vitamin A (Beta-carotene) như các loại củ quả có màu vàng/đỏ, các loại rau màu xanh sẫm như rau ngót, rau giền, rau cải xanh, rau muống, rau đay, rau mồng tơi…, dầu cọ và các loại dầu ăn khác. Theo các nghiên cứu gần đây, khi vào cơ thể tiền vitamin A sẽ được chuyển thành vitamin A (theo tỷ lệ 12:1 đối với hoa quả chín và 22-24: 1 đối với rau xanh). Vitamin A tan trong chất béo nên chế độ ăn cần có đủ dầu ăn/mỡ để giúp hấp thu và chuyển tiền vitamin A sang dạng vitamin A.

 

b. Lựa chọn các thực phẩm giàu kẽm cho bữa ăn:Kẽm có vai trò quan trọng, cần cho phát triển và duy trì hoạt động hiệu quả của hệ thống miễn dịch, cần thiết cho việc bảo vệ cơ thể trước bệnh tật, làm vết thương mau lành. Thiếu kẽm sẽ làm tổn thương chức năng miễn dịch, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm virút từ đó làm giảm tăng trưởng, phát triển của trẻ, làm tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ.

 

Nên bổ sung kẽm cho cả trẻ em và người lớn.

 

Liều bổ sung kẽm: 10mg kẽm/ngày cho trẻ < 6 tháng và 20 mg/ngày cho trẻ > 6 tháng cho đợt điều trị 14 ngày. Người lớn có thể dùng bổ sung 20-30mg/ngày trong thời gian mắc sởi hay thủy đậu.

 

Lựa chọn thực phẩm có nhiều kẽm: Thức ăn nhiều kẽm là tôm đồng, lươn, hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, lạc...), đậu xanh nảy mầm cũng nhiều kẽm và dễ hấp thu. Với trẻ nhũ nhi, để có đủ kẽm, nên cố gắng cho bú sữa mẹ vì kẽm trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn nhiều so với sữa bò

 

c. Bữa ăn cần có các thực phẩm giàu vitamin C: Vitamin C có chức năng chống lại dị ứng, làm tăng chức năng miễn dịch.

 

Vitamin C có nhiều trong các loại quả chín như: Cam, bưởi, chuối, xoài, dưa hấu… và các loại rau như rau ngót, rau giền, rau đay, mồng tơi. rau muống,

 

Khi trẻ bị bệnh nên cho trẻ uống nước quả chín (từ 1-2 cốc/ngày) để cung cấp đủ lượng vitamin C giúp nâng cao miễn dịch.

 

 

 

3. Chú ý về cách chế biến

 

·         Cần đảm bảo khẩu phần ăn hàng ngày với các món ăn hợp khẩu vị nhưng thức ăn cần được cắt thái hoặc xay nhỏ hơn, chế biến mềm hơn, lỏng hơn so với lúc chưa bị bệnh.

 

·         Thay đổi món ăn và chia làm nhiều bữa nhỏ để giúp cho quá trình ăn nhai tốt hơn, ăn ngon miệng hơn và dễ tiêu hóa hơn.

 

·         Tránh các thức ăn chiên xào nhiều dầu mỡ, thức ăn nướng, xông khói…

 

·         Khi chế biến tránh làm rau bị dập nát, cắt /thái và cho rau vào nấu khi nước đã sôi, nấu xong ăn ngay để tránh mất các vitamin, nhất là vitamin C và beta-caroten.

 

·         Tất cả dụng cụ chế biến phải sạch sẽ, rửa tay sạch trước khi chế biến thức ăn và khi cho trẻ ăn.

 

4. Một số chú ý khác

 

Phải cho trẻ uống đủ nước, nhất là trong giai đoạn trẻ đang sốt, nôn. Có thể cho trẻ uống nước quả như nước cam, nước bưởi, nước chanh và các loại nước quả, sinh tố khác. Khi trẻ sốt cao, nôn và tiêu chảy cần cho trẻ uống dung dịch ORESOL để bù nước và điện giải theo hướng dẫn.

 

Sau khi trẻ đã khỏi bệnh, cần cho trẻ ăn nhiều hơn trong giai đoạn hồi phục ít nhất là 2 tuần để trẻ có thể nhanh chóng trở về tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe bình thường.

 

Nên bổ sung đa vitamin- khoáng chất mà trong thành phần có vitamin A, E, C, kẽm, selen…, trong đó quan trọng hơn cả là vitamin A, C và kẽm giúp cho nâng cao miễn dịch.Để dự phòng tránh mắc bệnh sởi, mọi trẻ em đều cần được tiêm vắc sởi đầy đủ theo hướng dẫn của chuyên môn đồng thời uống bổ sung vitamin A liều cao 6 tháng một lần đối với trẻ dưới 5 tuổi theo chiến dịch của chương trình vitamin A do Viện Dinh dưỡng – Bộ Y tế tổ chức vào ngày vi chất dinh dưỡng 1-2 tháng 6 và tháng 12 hàng năm; giữ nhà cửa thông thoáng, tăng cường vệ sinh cá nhân (đặc biệt là vệ sinh mũi họng), giữ ấm cơ thể, dinh dưỡng hợp lý, nâng cao thể trạng để tăng sức đề kháng. Khi đã mắc sởi, không chỉ cần thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý mà còn cần uống vitamin A theo qui định và bổ sung các vi chất khác như vitamin C, kẽm, selen… giúp tăng cường miễn dịch.

 

 

 

Hàm lượng vitamin A trong 100g thực phẩm ăn được

 

Tên thực phẩm

Hàm lượng vitamin A (Retinol) (mcg)

Tên thực phẩm

Hàm lượng vitamin A (Retinol) (mcg)

 1. Gan gà

6960

 9. Trứng vịt

360

 2. Gan lơn

6000

 10. Sữa bột toàn phần

318

 3. Gan bò

5000

 11. Phó mát

275

 4. Gan vịt

2960

 12. Thịt ngỗng

270

 5. Lươn

1800

 13. Thịt vịt

270

 6. Trứng vịt lộn

875

 14. Cá chép

181

 7. Trứng gà

700

15. Trứng chim cút

155

 8. Bơ

600

 16. Bầu dục lơn

150

Sử dụng vitamin A trong bệnh Sởi

 

 

Mặc dù đã có vắc-xin phòng bệnh sởi có hiệu quả, bệnh sởi vẫn tiếp tục là một vấn đề sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới. Theo trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ, một phần ba số trẻ em dưới 5 tuổi bị nhiễm sởi có các biến chứng và 55% trường hợp tử vong liên quan đến bệnh sởi là trẻ em dưới 5 tuổi.

 

Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng ở các nước đang phát triển, điều trị vitamin A cho trẻ em bị mắc bệnh sởi giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã ban hành một tuyên bố chung khuyến nghị rằng vitamin A được dùng cho tất cả trẻ em được chẩn đoán mắc bệnh sởi ở các địa phương có tình trạng thiếu vitamin A đang là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng (trẻ được chẩn đoán là thiếu vitamin A khi có hàm lượng vitamin A huyết thanh <10 mcg/ dL) và ở cộng đồng có tỷ lệ tử vong liên quan đến bệnh sởi ở mức > 1%. Phác đồ dùng vitamin A bằng đường uống được khuyến cáo là trong 2 ngày liên tiếp kể từ khi chẩn đoán, mỗi ngày cho uống 50.000 đơn vị quốc tế cho trẻ dưới 6 tháng; 100.000 đơn vị quốc tế cho trẻ 6 - 12 tháng và 200.000 đơn vị quốc tế đối với trẻ lớn hơn. Đối với các bệnh nhân mắc sởi có dấu hiệu nhãn khoa mà nguyên nhân do thiếu vitamin A, ví dụ như quáng gà, vệt Bitot (vệt màu trắng đục nằm trên giác mạc mắt) hoặc khô mắt, WHO khuyến cáo liều trên được nhắc lại một lần nữa sau 4-6 tuần. 

 

Lý do sử dụng vitamin A

 

Vitamin A có chức năng bảo tồn tính toàn vẹn của tế bào biểu mô, ngoài ra còn đóng vai trò trong tăng trưởng và tăng cường miễn dịch. 

 

Thiếu vitamin A thường xảy ra ở trẻ em được nuôi dưỡng không đầy đủ. Những bệnh nhân này thường có dự trữ vitamin A ở gan rất thấp khi bị nhiễm sởi, mặc dù nguyên nhân chính xác còn chưa rõ ràng. Nguyên nhân có thể là do giảm nồng độ protein (prealbumin và protein gắn retinol) cần thiết để huy động vitamin A từ gan. Sự sụt giảm này được quan sát thấy ở trẻ em mắc bệnh sởi và các bệnh cấp tính khác. Kết quả dẫn đến nồng độ netinol huyết thanh thấp và giảm tái tạo bề mặt biểu mô. Trong số 89 trẻ em dưới 2 tuổi ở New York bị mắc bệnh sởi, có 22% trẻ có nồng độ vitamin A trong huyết thanh thấp. Nồng độ vitamin A huyết thanh thấp có mối tương quan với nồng độ kháng thể đặc hiệu kháng sởi thấp hơn và tăng tỷ lệ mắc bệnh. Một cuộc điều tra tương tự tại Nam Phi cho thấy có mối liên quan giữa vitamin A và các yếu tố miễn dịch làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở bệnh nhân sởi.

 

Mankowitz và cộng sự quan sát thấy thiếu vitamin A liên quan với tăng tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 24 tháng tuổi ở Zainian nhập viện do bệnh sởi, viêm phổi, và giảm bạch cầu lympho.

 

Tác dụng của của vitamin A trong điều trị bệnh sởi lần đầu tiên được báo cáo trong năm 1932. Gần đây, nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có nhóm đối chứng ở trẻ em Nam Phi dưới 13 tuổi mắc bệnh sởi và không có dấu hiệu lâm sàng rõ ràng của suy dinh dưỡng. Những trẻ mắc bệnh sởi được uống bổ sung vitamin A liều cao (400 000 đơn vị) tại thời điểm nhập viện có tỷ lệ biến chứng và tỷ lệ tử vong thấp hơn đáng kể. Sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong rõ rệt hơn ở trẻ em dưới 2 tuổi. Các nghiên cứu khác cũng đã xác nhận việc bổ sung vitamin A làm giảm mức độ nặng của các biến chứng (ví dụ tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp) ở bệnh nhân mắc bệnh sởi.

 

Tính an toàn của Vitamin A

 

Tình trạng ngộ độc Vitamin A cấp tính hiếm gặp và thường do sử dụng liều cao (liều tích lũy thường xuyên trên 1 000 000 đơn vị) trong 2 đến 3 tuần..Biểu hiện lâm sàng của ngộ độc vitamin A cấp tính ở trẻ nhỏ là trẻ có biểu hiện thóp phồng và nôn mửa. Ở trẻ lớn hơn và người trưởng thành có biểu hiện buồn nôn, nôn, nhức đầu, và tăng áp lực nội sọ. Xét nghiệm chức năng gan có biểu hiện bất thường cũng có thể xảy ra khi sử dụng quá liều vitamin A. Vitamin A gây dị tật bẩm sinh ở liều điều trị nên không được kê đơn cho phụ nữ mang thai. Không có báo cáo về ngộ độc vitamin A cấp tính ở trẻ em mắc bệnh sởi khi sử dụng các liều khuyến cáo của WHO. Điều quan trọng là liều khuyến cáo của vitamin A cho điều trị bệnh sởi cao hơn 100 đến 200 lần nhu cầu khuyến nghị của khẩu phần ăn hàng ngày. Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ cân nhắc dữ liệu về tính hiệu quả và an toàn của vitamin A ở trẻ em Mỹ mắc bệnh sởi còn hạn chế và do vậy, cảnh báo các bác sỹ thực hành áp dụng điều trị vitamin A cho bệnh nhân sởi hết sức cẩn thận, sử dụng đúng liều vitamin A quy định, và theo dõi các tác dụng phụ (ví dụ, thóp phồng, đau đầu và nôn). Việc phân phối vitamin A cần được hướng dẫn cụ thể và sử dụng liều vitamin A theo tuổi phù hợp để đề phòng ngộ độc.

 

Chương trình phòng chống thiếu vitamin A ở Việt Nam

 

Từ năm 1988, Viện dinh dưỡng đã triển khai chương trình phòng chống thiếu vitamin A và bệnh khô mắt. Từ năm 1993, chương trình đã được triển khai trên toàn quốc. Năm 1995, Việt Nam được Tổ chức Y tế Thế giới và Tổ chức phòng chống thiếu vitamin A quốc tế công nhận đã loại trừ bệnh khô mắt do thiếu vitamin A thể lâm sàng nhưng cho đến nay, thiếu vitamin A cận lâm sàng vẫn là vấn đề sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam. Hoạt động phòng chống thiếu vitamin A được triển khai với các cách tiếp cận khác nhau: tiếp cận dựa vào thực phẩm, bổ sung vitamin A vào thực phẩm và bổ sung vitamin A liều cao cho các đối tượng nguy cơ cao, giáo dục truyền thông về cách nuôi con theo khoa học, ăn bổ sung hợp lý cho trẻ, kết hợp với các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu khác như tiêm chủng phòng sởi, chống tiêu chảy... Tại 63 tỉnh thành phố, hoạt động của chương trình là tập trung bổ sung vitamin A liều cao cho trẻ 6-36 tháng tuổi uống theo chiến dịch vào ngày vi chất dinh dưỡng 1- 2 tháng 6 (đợt 1) và kết hợp với ngày tiêm chủng tháng 12 (đợt 2) hàng năm với liều 100.000 đơn vị cho trẻ 6 -11 tháng tuổi, 200.000 đơn vị cho trẻ 12 - 36 tháng tuổi.

 


Trẻ uống Vitamin A trong ngày Vi chất Dinh dưỡng

 

Chương trình còn bổ sung vitamin A cho trẻ dưới 5 tuổi có nguy cơ thiếu vitamin A (trẻ dưới 6 tháng không được bú mẹ, trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, sởi) và bà mẹ trong tháng đầu sau sinh (để tăng cường vitamin A trong sữa mẹ). Ở một số tỉnh khó khăn; những vùng có tỷ lệ suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A cao, thì các trẻ từ 36-59 tháng tuổi cũng được uống bổ sung 200.000 đơn vị vitamin A, một năm 2 lần. Trong các năm qua, tỉ lệ trẻ em 6-36 tháng tuổi được bổ sung vitamin A liều cao trong các đợt chiến dịch luôn đạt tỷ lệ trên 90%.

 

Ngày 18/4/2014, Bộ trưởng Bộ Y tế đã có quyết định số 1327/QĐ-BYT ban hành "Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh sởi" trong đó uống bổ sung vitamin A được coi là điều trị hỗ trợ đối với trẻ đã mắc sởi với liều cụ thể như sau:

 
  • Trẻ < 6 tháng: uống 50.000 đơn vị/ ngày x 2 ngày liên tiếp
  • Trẻ 6 -12 tháng: uống 100.000 đơn vị/ ngày x 2 ngày liên tiếp
  • Trẻ > 12 tháng và người lớn: uống 200.000 đơn vị/ ngày x 2 ngày liên tiếp
 

Trường hợp có biểu hiện thiếu vitamin A: lặp lại liều trên sau 4-6 tuần

 

 

 

PGS. Lê Danh Tuyên – Viện trưởng Viện Dinh Dưỡng


THÔNG TIN THỜI TIẾT THÔNG TIN THỜI TIẾT

Thư viện video Thư viện video